≡ Menu

Kỹ thuật trồng Cà Chua

Đặc điểm và tác dụng của Cà Chua

– Đặc tính sinh vật học:

+ Rễ: Rễ cái mọc mạnh, ăn sâu 0.5 – 1m. Rễ cái thường bị đứt khi cây ra rễ phụ, hệ thống rễ phụ rất phát triển và phân bố rộng. Bộ rễ ăn sâu hay nông, phát triển mạnh hay yếu đều liên quan đến mức độ phân cành và phát triển của các bộ phận trên mặt đất. Do đó muốn có bộ rễ như ý muốn nên tỉa cành, bấm ngọn thường xuyên.
+ Thân: Thân tròn mọng nước, phủ nhiều lông, khi cây lớn thân cây hóa gỗ.
Tuỳ theo khả năng sinh trưởng và phân nhánh, cà chua được phân thành 4 dạng khác nhau:
• Dạng vô hạn:
Thân dài hơn 2m, có chùm hoa đầu tiên ở lá thứ 9 – 11 sau đó cách 3 – 4 lá sau mới có chùm hoa tiếp theo.
Dạng này có tiềm năng cho năng suất cao nhờ thu hoạch dài ngày.
• Dạng hữu hạn:
Thân cứng, mọc đứng, có chùm hoa đầu tiên ở lá thứ 7 – 9, sau đó cách 1 – 2 lá cho chùm hoa kế tiếp cho đến khi cây được 4 – 6 chùm hoa thì xuất hiện chùm hoa ngọn, cây ngừng cao. Dạng cà chua này cho trái sớm và tập trung.
• Dạng bán hữu hạn:
Tương tự như dạng hữu hạn nhưng số chùm hoa của loại này nhiều hơn khoảng 8 – 10 chùm.
• Dạng bụi:
Cà chua có lông rất ngắn, đâm chồi mạnh, ít chùm hoa, cho trái tập trung, phục vụ cho việc trồng dày và thu hoạch cơ giới.
+ Lá: Lá kép lông chim
+ Hoa: Hoa mọc thành chùm trên thân, thông thường mỗi chùm 6 – 12 bông hoa. Do cà chua tiết ra nhiều tiết tố độc nên không hấp dẫn côn trùng, hạt phấn nặng do đó khó có sự thụ phấn chéo xảy ra.
+ Quả: Quả mọng nước, hình dạng quả thay đổi từ tròn đến dài, trong quả chia ra làm hai hay nhiều khoang.
+ Hạt: Hạt nhỏ hẹp nhiều lông màu vàng sáng hơi tối.

– Giá trị dinh dưỡng của cà chua:

Vì sao cà chua là loại quả được nhiều người sử dụng để chế biến các món ăn? Những phân tích khoa học của các nhà chuyên môn về thành phần dinh dưỡng cà chua sau đây cho chúng ta thấy rõ điều đó.
Theo phân tích, trong 100g cà chua có 2,2mg đường, 8mg canxi, 3,7mg kali, 0,4mg sắt, 0,3mg carotene, 0,6mg nitơ, vitamin A, vitamm B1; vitamin B2, vitamin c, vitamin pp và các acid hữu cơ. Đặc biệt, các vitamin trong cà chua không bị mất đi trong quá trình chế biến, nấu nướng. Màu đỏ của cà chua khi chín cũng cho thấy hàm lượng vitamin A trong cà chua rất cao, trung bình một quả cà chua chín tươi sẽ đáp ứng được một lượng thiết yếu vitamin và muối vô cơ cho cơ thế. Các acid hữu cơ trong cà chua có tác dụng bảo vệ lượng vitamin cho cà chua ít bị phân hủy trong quá trình đun nấu.
Một số nghiên cứu khoa học cũng đã chứng minh, cà chua có tác dụng giảm huyết áp, giảm lượng cholesterol trong máu, từ đó sẽ ngăn chặn được tình trạng xơ vữa động mạch và các nguy cơ dẫn tới đột quỵ. Cà chua có tác dụng kích thích tiết ra nước bọt để trợ giúp cho quá trình tiêu hóa của cơ thể được dễ dàng. Khi thời tiết nóng bức trong người thấy khô háo, nếu sử dụng cà chua nấu canh sẽ giúp cho người khoan khoái, dễ chịu, giúp ăn ngon miệng hơn.
Một số công trình nghiên cứu đã cho thấy, cà chua có tác dụng phòng chống một số căn bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư tiền liệt tuyến ở nam giới, vì trong cà chua có chứa lycopene – đây là chất có tác dụng chống ôxy hóa rất quan trọng, làm tiêu diệt một số tế bào có nguy cơ gây ung thư. Một cuộc khảo cứu của các nhà khoa học Đan Mạch trên 220 người đàn ông có tiền sử về bệnh tim mạch và những người đàn ông khỏe mạnh cho thấy, những người có hàm lượng lycopene trong cơ thế cao sẽ ít có nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch.
Ngoài ra, các sắc tố hồng trong cà chua có tác đựng làm hòa tan mỡ và đường giống như carotene. Khi cà chua đã chín mọng, nếu phơi nắng cà chua từ 12 giờ trở lên, sắc tố hồng trong cà chua sẽ bị hao hụt. Cũng giống như hồng tố trong cà rốt, hồng tố trong cà chua khó hấp thu, vì vậy khi chế biến cần cho ít dầu, mỡ vào xào nóng để cơ thể dễ dàng hấp thu dưỡng chất này.
Theo y học cổ truyền, ăn cà chua còn có tác dụng mát máu, ổn định gan, giải nhiệt, giải độc, rất thích hợp cho những người bị chảy máu chân răng, người bị cao huyết áp, người cơ thể nóng nhiệt. Bởi thế, ăn cà chua không còn là một sở thích mà còn có tác dụng nâng cao sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật. Vì vậy, trọng chế độ ăn uống hằng ngày bạn nên sử dụng đều đặn cà chua để chế biến nhiều dạng món ăn.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc Cà Chua

– Yêu cầu ngoại cảnh của cà chua:

+ Khí hậu:
• Nhiệt độ:
Nhiệt độ thích cho sự phát triển của cà chua là 21 – 24°C.
• Ánh sáng:
Cà chua là cây ưa sáng, vì vậy không nên ươm cây con dưới bóng râm hay gieo quá dày.
• Độ ẩm:
Độ ẩm không khí tốt nhất cho cà chua vào khoảng 45 – 60%.
+ Đất: Cà chua trồng được trên nhiều loại đất song thích hợp nhất vẫn là trên đất pha cát, đất nhiều mùn hay đất phù sa, đất bồi giữ ẩm và thoát nước tốt. Cà chua phát triển tốt trên đất lúa hay trồng sau vụ bắp cải, dưa leo, hành tây và những loại cây bón nhiều phân hữu cơ, phân đạm. Đất có pH 6.0 – 6.5, đất chua hơn phải bón thêm vôi.
+ Nước: Nhu cầu nước của cà chua tuỳ thuộc vào giai đoạn phát triển của cây. Khi cây ra hoa đậu quả là khi cây cần nhiều nước nhất. Lượng nước tưới cũng nên thay đổi tuỳ thuộc vào lượng phân bón, mật độ trồng và loại đất. Khi bón nhiều phân đạm và trồng dày, cần gia tăng lượng nước tưới.
+ Phân bón: Để đạt năng suất cao cà chua đòi hỏi nhiều chất dinh dưỡng. Lượng chất dinh dưỡng hấp thụ tuỳ thuộc vào khả năng cho năng suất của giống cà chua, tình trạng đất, điều kiện trồng. Để sản xuất được 10 tấn quả cây cần hấp thụ 25 – 30 tấn nitơ, 2 – 3kg phốt-pho, 30 – 35kg kali. Vì giai đoạn tăng trưởng và phát dục của cây trùng lặp nhau và nhu cầu cây cần chất dinh dưỡng cho đến khi trái chín, do đó việc bón lót, bón thúc nhiều lần, bón luân phiên phân vô cơ và hữu cơ giúp tàng hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng cho cây và tăng năng suất. Phần lớn chất dinh dưỡng nuôi quả được cây hấp thụ sau khi trổ hoa, do đó cây yêu cầu chất dinh dưỡng nhiều nhất khoảng 10 ngày sau khi hoa nở cho đến khi trái bắt đầu chín.

– Chọn giống:

Đối vối vùng đồng bằng:
+ Giống địa phương: Phần lớn là giống cà chua hữu hạn, canh tác không giàn. Thường trồng cà cùi, cà bon bon, cà gió.
+ Giống nhập nội (thường là giống Fl):
Giống Red Crown 250, giống S901, giống VL 2100.
Giống cà chua Cherry (còn gọi là cà chua em bé đỏ): Quả nhỏ, thịt dày, có thể ăn sống.

– Thời vụ:

+ Vụ đông xuân: Gieo tháng 10-11 dương lịch, thu hoạch vào tháng 1 – 2 dương lịch.
+ Vụ xuân hè: Gieo tháng 12 – 1 dương lịch, thu hoạch vào 3 – 4 dương lịch.
+ Vụ hè thu: Gieo tháng 6 – 7 dương lịch, thu hoạch vào tháng 9 – 10 dương lịch.
Gieo hạt và ươm cây con: Lượng hạt gieo là 1.5 – 2g/m2.
Trước khi gieo hạt nên ngâm hạt trong nước ấm 40 – 50°C trong khoảng 3 giờ. Sau đó, cho hạt vào túi vải bọc giấy kín. Sau khoảng 3 – 4 ngày rễ mọc thì đem gieo vào vườn ươm.
Sau khi gieo hạt đều trên mặt đất, rải 1 lớp tro mỏng, trên phủ một lốp rơm mỏng và tưới nước đê có đủ độ ẩm. Sau khi gieo khoảng 30 – 40 ngày, cây có 5 – 6 lá có thể đem trồng.

– Làm đất và lên luống:

+ Cày bừa để ải trong thời gian ít nhất là một tuần.
+ Cày bừa lại và lên luống sơ bộ.
+ Sửa sang thành luống chính thức để chuẩn bị trồng.
+ Không đập đất quá nhỏ thành dạng đất bột.
+ Luống cà chua có chiều rộng 110 – 120cm, rãnh rộng 20 – 25cm, cao 30cm.
+ Các luống nên bố trí theo hướng Đông – Tây.
Trồng cà chua vụ xuân lên luống cao hơn vụ thu đông.
Bón lót và trồng cà chua ra ruộng sản xuất:
+ Hố trồng cuốc sâu 12-15 phân.
+ Mỗi hố bón 1kg phân chuồng hoai mục (có thể thay phân chuồng bằng nước phân, trên mỗi luống đánh 2 rãnh sâu 12 – 18cm cách nhau 80cm, phân nước được tưới vào rãnh này và phủ đất lên, phơi đất khoảng 2 ngày rồi trồng cây).
+ Mật độ trồng cà chua tùy thuộc vào đặc điểm của giống, mức độ phì nhiêu của đất nhưng có thế bố trí như sau:
• Nên trồng cà chua vào buổi chiều.
• Hàng cách hàng 80cm, cây cách cây 60cm, hoặc có thể là cây cách cây 40cm.
• Khi trồng nên cắt bớt rễ cái để khi trồng cây bén rễ nhanh.
• Nên trồng cây to với cây to cây nhỏ với cây nhỏ đế tiện chăm sóc.
• Sau khi trồng ấn nhẹ đất vào gốc cây và làm bằng phắng đất xung quanh gốc.
• Trồng xong tưới nước cho cà chua ngay.
Nếu chưa kịp bón lót thì tưới nước, pha thêm phân bắc để cung cấp dinh dưỡng cho cây.

– Kỹ thuật chăm sóc:

+ Tưới nước:
Sau khi trồng phải tưới nước liên tục trong 1 tuần, mỗi ngày tưới 1 lần vào buổi sáng. Sau khi cây bén rễ thì 2 – 3 ngày tưới 1 lần.
+ Khi cành lá phát triển nhiều thì lượng nước tưới mỗi lần phải được tăng lên.
+ Thời kỳ cà chua ra hoa và quả nhỏ là lúc cây cần nhiều nước nên đất luôn phải được giữ ẩm.
+ Tưới phân thúc:
Cà chua cần được bón thúc nhiều lần kết hợp với tưới nước, nên tập chung bón thúc vào thời kỳ cây ra hoa, đậu quả và sau mỗi lần thu hoạch quả. Thời tiết khô hanh thì bón thúc với nồng độ phân loãng. Thời tiết ấm và mưa thì bón thúc phân với nồng độ đặc hơn.
+ Vun xới:
Việc vun xới gốc cà chua cần được tiến hành trước khi cây ra hoa kết quả. Từ lúc trồng đến khi cây được 20 ngày phải vun gốc 2 lần: Lần thứ nhất sau khi trồng khoảng 8 – 10 ngày và lần thứ 2 cách lần thứ nhất 1 tuần.
+ Làm giàn:
Việc làm giàn được tiến hành sau khi cây ra chùm hoa thứ nhất.
Tốt nhất nên tiến hành làm giàn cà chua theo kiểu làm hàng rào. Mỗi một cây cà chua được cắm một cọc thang đứng sát gốc. Cây vươn tới đâu thì buộc thân cây vào cọc tối đó. Cọc thường dài 1,5m, đóng sâu xuống đất 20cm. cần buộc một cây nối theo hàng cọc cho giàn được chắc.

– Bấm ngọn và tỉa cành:

Mục đích bấm ngọn tỉa cành là đế tập trung chất dinh dưỡng nuôi quả.
Có hai cách bấm ngọn tỉa cành, tùy thuộc vào đặc điểm của từng giống cây thì dùng cách khác nhau.
+ Đối với giống cà chua ngắn ngày, nên tỉa cành chỉ để lại một thân mẹ: Mỗi cây chỉ để lại một thân chính, các mầm xuất hiện ở nách lá 3 – 4cm nên ngắt bỏ. Việc tỉa cành phải được làm thường xuyên 4 – 5 ngày một lần. Sau khi trên thân chính đã có đủ chùm hoa quả như ý muốn (4 – 5 chùm) thì tiến hành bấm ngọn.
+ Khi trồng cà chua trên diện tích lớn, ở những nơi đất màu mỡ, mưa nhiều, trồng cây cà chua nhiều ngày, sinh trưởng khỏe thường người ta áp dụng phương pháp tỉa để 2 cành.
Tiến hành bấm cành nhưng vẫn để lại một cành từ thân chính dưới nách cọng lá phía dưới chùm hoa thứ nhất. (Tất cả chồi non và cành khỏe cắt hết). Bấm ngọn khi cây đó ra được 4 – 5 chùm quả. Tính từ chùm quả cuối cùng lên chừa lại hai lá, phần ngọn phía trên bấm đi.
+ Tỉa lá già: Vào cuối thời kỳ sinh trưởng của cây, cà chua có những lá già vàng cần phải tỉa bỏ để làm thoáng ruộng cho cây phát triển tốt.

– Ngăn ngừa rụng hoa rụng quả:

Để ngăn ngừa hiện tượng rụng hoa, quả sử dụng chất kích thích sinh trưởng 2,4 – D (phun thuốc này ngay cả khi hoa chua thụ phấn). Khi phun thuốc cần chờ cho hoa nở được khoảng hơn một nửa rồi mới phun 2,4 – D. Nồng độ 2,4 – D là 15 – 25g/1o lít. Khi xử lý hoa bằng 2,4 – D cần tránh không cho thuốc dây vào lá vì thuốc có thể làm quăn lá. Nếu xảy ra trường hợp này thì phải bón bổ sung 1 – 2 lần phân loãng.
Khi phun 2,4 – D làm cho quả cà chua không hạt nên sử dụng thuốc này cho ruộng trồng cà chua giống.

– Kỹ thuật để giống cà chua:

+ Khi cần tạo giống thì chọn những cây khỏe, quả chín sớm, sai quả. Sau khi chọn cây chú ý theo dõi quá trình ra quả của cây. Tiến hành loại quả chùm thứ nhất chỉ lấy chùm quả thứ 2 – 3 đế lấy quả làm hạt giống. Mỗi chùm giống tiến hành tỉa chỉ để lại 2 – 3 quả. Khi quả giống chín tiến hành thu hoạch cắt quả giống để vào chậu sành, sứ 5 – 6 ngày cho thối rữa hết thịt quả tiến hành đãi lấy hạt. Hạt được phơi nơi thoáng mát, dùng đũa đảo đều cho nhanh khô. Bảo quản hạt trong thùng kín, dưới đáy để vôi sống chống ẩm.
+ Trung bình muốn có 1kg hạt giống thì phải chọn 150 – 200 quả cà chua giống.

– Phòng trừ sâu bệnh hại cây cà chua:

+ Sâu hại:
Sâu xám:
• Loại sâu này thường hại cây con mới trồng. Vào ban đêm chui lên cắn cây, ban ngày chui xuống đất. Tại chỗ gốc cây bị hại, dùng que đào bắt sâu, hoặc dùng Basudin 5G (10G).
Biện pháp phòng trừ: cần cày bừa kỹ, phơi ải, luân canh với cây trồng nước để ngăn chặn sâu xám phát triển.
• Sâu đục quả:(Helicoverpa armigera): Sâu đẻ trứng trên lá, khi nở sâu non phá hoại lá, sau đó đục vào quả. Đến thời kỳ trưởng thành chúng hóa nhộng trong đất gần gốc cây. Để phòng trừ sâu đục quả cần phải phun thuốc sớm ở giai đoạn sâu non, khi sâu trưởng thành, thuốc sẽ kém hiệu quả do sâu đục vào quả.
Các loại thuốc có thể dùng là: Delfin 32BIƯ, BT, Sherpa 25EC.
Một số loại sâu bệnh khác như: Rệp, bọ phấn, bọ trĩ nên dùng thuốc Pentin 15EC để phòng trừ.
+ Bệnh hại:
• Bệnh đốm lá:
— Bệnh hiện phổ biến trong vụ cà chua sớm, cà chua xuân hè.
— Điều kiện bệnh phát triển: Độ ẩm lớn, nhiệt độ cao.
— Bệnh ít nguy hiểm nhưng nếu nặng có thể phun Boocdo, ZinebWP.
• Bệnh xoăn lá:
— Bệnh thường hại nặng trong vụ cà chua sớm, vụ xuân hè.
— Đặc điểm của cây bị bệnh: Cây lùn, lá biến dạng xoăn, khảm xanh vàng do vi rút gây ra.
— Bệnh lan truyền do rệp, bọ phấn
— Biện pháp phòng trừ: Nhổ bỏ cây bệnh và phun thuốc trừ môi giới truyền bệnh.
• Bệnh sương mai (mốc sương):
— Thường hại trong chính vụ
— Điều kiện để bệnh phát triển: Thời tiêt âm u, ẩm độ cao, nhiệt độ thấp.
— Bệnh có thể hại trên lá, quả, thân.
— Biện pháp phòng trừ: Tạo ruộng thông thoáng, tỉa cành, nhánh, lá gốc. Phun Boocdo 1% để phòng bệnh. Có thể dùng một số thuốc hóa học khác như Zineb 80 WP. Alieette 80 WP. Khi phun cần xem liều lượng và thời gian cách ly trên bao bì của từng loại thuốc.
• Bệnh héo lá xoăn vi khuẩn:
— Hiện tượng: Cây bị hại đột nhiên héo rũ trong khi lá vẫn còn màu xanh.
— Cách xác định bệnh: Dùng dao cắt ngang thân cho vào cốc nước trong. Sau một lát, tại vết cắt có thấy dịch vi khuẩn màu trắng chảy ra.
— Điều kiện bệnh phát triển: Độ ẩm cao, ấm; bệnh phát triển đặc biệt vào vụ cà chua sớm.
— Biện pháp phòng trừ: cần luân canh cà chua với lúa nước. Có thể dùng kỹ thuật ghép cà chua trên gốc cà tím để tăng khả năng chịu úng và giảm bệnh héo xanh vi khuẩn trong vụ sớm. Khi bệnh phát triển cần hạn chế tưới nước, đặc biệt là tưới rãnh. Nhổ cây bệnh và dùng vôi bột rắc gốc cây bệnh. Thuốc hóa học để phòng bệnh này thường kém hiệu quả.

– Thu hoạch và bảo quản cà chua:

Người tiêu dùng và các chuyên gia chế biến đều mong muốn và yêu cầu cà chua phải chín đỏ. Tuy nhiên, khi vận chuyển đường dài thì không thể sử dụng những quả đã chín đỏ. Vì vậy người sản xuất cần hiểu biết và hợp đồng với các nhà kinh doanh, những người thu gom sản phẩm xác định thời điểm thu hái quả thích hợp.Trong quá trình chín cà chua phải qua các thời kỳ sau đây:
+ Thời kỳ quả xanh: Quả và hạt phát triển chưa hoàn chỉnh. Nếu thu hái quả ở thời kỳ này và thông qua các phương pháp thúc chín thì quả chín không bình thường, quả không có hương vị, không có màu sắc đặc trưng của giống.
+ Thời kỳ chín xanh: Chất keo bao quanh hạt được hình thành, quả chưa có màu hồng hoặc màu vàng. Nếu đem thúc chín thì quả sẽ thể hiện màu sắc của giống.
+ Thời kỳ chín vàng: Đỉnh quả xuất hiện màu vàng hoặc màu hồng với diện tích bề mặt chiếm khoảng 10%.
+ Thời kỳ chuyển màu: Diện tích bề mặt từ 10 – 30%, có màu vàng hoặc đỏ.
+ Thời kỳ chín hồng: Diện tích bề mặt quả từ 30 – 60% có màu hồng nhạt hoặc màu vàng.
+ Thời kỳ quả hồng hoặc đỏ: Diện tích bề mặt quả từ 60 – 90% trở lên có màu vàng hoặc đỏ.
+ Thời kỳ quả chín đỏ: Diện tích bề mặt từ trên 90% trở lên.
Trên đây là những thời kỳ quan trọng của quá trình chín. Từ khi chín xanh đến chín tổng hợp thời gian khoảng 10 – 12 ngày. Sau đó quả chín hoàn toàn và có màu đỏ thâm nhưng quả còn chắc, cứng. Nếu dùng làm thực phẩm là thích hợp nhất và được người tiêu dùng ưa chuộng. Khi quả mềm thì vẫn sử dụng được, nhưng cắt lát sẽ khó khăn. Quả chín mềm dùng để lấy hạt giống là thích hợp, thịt quả dùng để chế biến cà chua cô đặc hoặc tương cà chua rất tốt.
Khi thu hái cà chua bằng tay, do va đập trong khi sắp xếp, vận chuyển, quả bị xây xát, bị dập nát sẽ là môi trường tốt cho bệnh hại xâm nhiễm gây hư thối và giảm chất lượng. Vì vậy thao tác khi thu hái, sắp xếp và vận chuyển phải hết sức nhẹ nhàng. Nên chú ý kịp thời loại bỏ những quả bị dập nát.
Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng lớn đến chất lượng quả sau khi thu hái. Cà chua xanh rất mẫn cảm với thời tiết lạnh dưới 10°C. Nhiệt độ trong quả cà chua chín xanh phải được giảm nhanh chóng từ khoảng 23°C xuống 21°C trong 8-10 phút hoặc ở 13 – 15 phút đến nhiệt độ 15°C bằng cách sử dụng nước lạnh 1 – 5°C.
Cà chua chín ít mẫn cảm với môi trường lạnh nên có thể bảo quản ỏ nhiệt độ 10 – 13°C trong 4 ngày, sau đó cà chua vẫn có thể tiếp tục chín khi nhiệt độ tăng lên. Cà chua có màu hồng nhạt có thể bảo quản ở nhiệt độ 5°C trong 4 ngày, sau đó tăng nhiệt độ 13 – 15°C từ 1 – 4 ngày để hoàn thiện thời kỳ quả chín.
Quả chín đỏ thì có thể bảo quản ở nhiệt độ 2 – 5°C trong một số ngày. Những biến đổi sau đó là mất màu, giảm độ cứng và giảm hương vị. Duy trì độ ẩm không khí trong quá trình bảo quản từ 85 – 90% để tránh hiện tượng quả héo và nhăn nheo. Muốn rút ngắn thời gian trong quá trình chín người ta cho cà chua xanh tiếp xúc vối ethylene (CH4) từ 12 – 18 giờ ở nhiệt độ 20°C. Như vậy sẽ giảm được 1/2 thời gian so với cà chua bình thường. Khi cần thiết cũng có thể khống chế quá trình chín cho đến khi bán sản phẩm bằng cách điều chỉnh khí trong kho. Điều chỉnh khí cacbon oxit và oxy trong kho là rất khó khăn và phức tạp. Nên chú ý điều chỉnh lượng cacbon và oxy nhanh chóng đạt đến mức tới hạn, nếu sự cân bằng đó có thể duy trì được cà chua thì điều chỉnh lượng oxy cơ bản ở mức thấp, còn đối với lượng cacbon oxit cũng phải quan tâm điều chỉnh.
Mặc dù vậy hầu hết trong thực tiễn đều bảo quản cà chua với mức 5% cacbon và 2,5% oxy ở nhiệt độ 12°C, khi tỷ lệ cơ bản cacbon là 10% và oxy là 2,5% nấm bệnh sẽ không có điều kiện phát triển. Để tăng hiệu quả phòng trừ bệnh hại thì điều chỉnh tỷ lệ cacbon oxit: 2,5% và oxy: 2,5% là tốt.
Bảo quản trong điều kiện tự nhiên: Chọn những quả có khối lượng quả trung bình, khi chín quả rắn chắc. Chọn quả ở thời kỳ chín xanh, thu hái quả về sắp xếp quả ở nơi thoáng mát (không được chất đống) để giảm nhiệt độ trong quả, giảm hô hấp. Dùng vải mềm, giấy mềm lau chùi quả sạch, tách bỏ lá đài, không đế lại vết nứt, rách. Sau đó đưa quả lên dàn hoặc xếp quả vào khay gỗ, khay nhựa, những khay nhựa có thể chồng lên nhau nhưng không nên chồng quá cao. Nên phân cấp quả khi bảo quản, thường xuyên kiểm tra trong thời gian bảo quản để giảm thiểu hiện tượng hao hụt khốĩ lượng và chất lượng.