≡ Menu

Kỹ Thuật Trồng Cây Hồi

1. Công dụng của Hoa Hồi

Giá trị cao nhất là quả (hoa hồi) và tinh dầu hồi dùng để chế rượu anis, hương liệu và thuốc chữa bệnh.
Là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao.

2. Kỹ thuật nhân giống cây Hồi

Tại Lạng Sơn quả chín tháng 10 – 11 (vụ đông) và tháng 5 – 6 (vụ hè). Tuy nhiên, thông thường chỉ thu hái quả vào vụ đông, sau tiết sương giáng. Thu hái quả khi quả chuyển sang màu vàng nhạt, hạt bên trong màu nâu đậm, bóng, nội nhũ bên trong trắng và cứng.
Quả sau khi thu hái ủ thành đống cho chín đều 2 – 3 ngày, sau đó phơi trong nắng nhẹ cho tách hạt. Khoảng 30 kg quả được 1 kg hạt. Hạt mới có khoảng 8.000 – 11.000 hạt/kg, hàm lượng nước ban đầu 34%. Tỷ lệ nảy mầm ban đầu rất thấp do hạt có tính ngủ. Sau khi bảo quản trong điều kiện ẩm lạnh trong vài tháng tỷ lệ nẩy mẩm có thể đạt tới 78%.
Hạt được trộn với cát ẩm đưa vào bảo quản ở nhiệt độ thấp hoặc ở nơi lạnh. Thời hạn bảo quản có thể được 5 – 6 tháng.
Ngâm hạt trong nước lã 8 giờ trước khi gieo. Hạt nảy mầm chậm, rải rác do có tính ngủ. Thời gian nảy mầm từ 45 – 80 ngày.

3. Kỹ thuật trồng cây Hồi

Thích hợp vùng có nhiệt độ bình quân 20 – 26°C, lượng mưa 1.500 – 1.800mm.
Độ cao tuyệt đối 200 – 800m.
Độ dốc dưới 20 – 25°C.
Đất sâu ẩm, thành phần cơ giới trung bình, thoát nước, pH: 4-6.
Đất chưa bị thoái hoá, mùn trên 2 – 3%, có lớp cây bụi thảm tươi che phủ.
Trồng cây tập trung và phân tán đều được.
Hạt giống lấy từ rừng giống chuyển hoá.
Trồng bằng cây con có bầu.