≡ Menu

Kỹ thuật trồng Su Hào

Tác dụng của Su Hào

Với vị ngon, ngọt, màu sắc xanh đẹp mắt, su hào đã trở thành một trong những món ăn chính phục vụ bữa cơm hằng ngày của các gia đình. Không chỉ ngon miệng, su hào còn là loại thực phẩm đem lại giá trị dinh dưỡng khá cao và được dùng để chữa trị nhiều loại bệnh…
Su hào còn gọi là phiết làn, giới lan, giá liên, ngọc man thanh. Su hào có tên khoa học là Brassica oleracea, thân mập, có nguồn gốc từ bắp cải dại.
Su hào màu xanh, có dạng hình cầu, cứng và giòn, vị ngọt và không cay bằng củ cải, chứa nhiều chất xơ tốt cho hệ tiêu hóa cũng như chứa các chất như: selen, acid folic, vitamin c, kali, magiê và đồng, đem lại chất dinh dưỡng cho cơ thể. Su hào được trồng phổ biến đầu tiên ở nước Đức, sau đó được trồng rộng rãi ở châu Âu, châu Á.
Những người nội trợ có thể bảo quản su hào trong tủ lạnh thời gian khá dài. Những trái su hào non thường mềm và ngọt hơn là những trái đã già. Có thể sử dụng được cả củ và lá su hào để dùng trong các bữa ăn. Lá su hào còn có thể dùng làm thuốc. Ở Vân Nam (Trung Quốc), củ su hào được dùng trị tỳ hư hỏa thịnh; lá và hạt dùng trị loét hành tá tràng.
Người ta dùng su hào – chủ yếu là củ – làm rau ăn luộc, xào, hầm xương, dùng củ non thái nhỏ làm nộm, hoặc phơi tái làm dưa món, muối dưa. Trong các bữa ăn của gia đình, các bà nội trợ thường sử dụng su hào kết hợp với khoai tây, cà rốt, bắp cải, đậu Hà Lan để nấu các món súp thịt heo, tăng thêm giá trị bổ dưỡng và tạo cảm giác ngon miệng cho bữa ăn.
Su hào còn được dùng làm nguyên liệu chính của một số món ăn như: gỏi su hào tôm khô; canh su hào, su hào xào rau củ… Nếu su hào còn non, người ta cũng có thể dùng để ăn sống, làm đồ chua ngọt.

Kỹ thuật trồng Su Hào

– Các giống su hào trồng ở nước ta:
Thường có 2 giống:
+ Su hào dọc trung (hay su hào dọc nhỡ): Củ tròn, to, mỏng vỏ, cọng và phiến lá to hơn, dày hơn loại su hào dọc tăm. Điển hình là su hào Hà Giang.
Thời gian sinh trưởng 90 – 105 ngày.
+ Su hào dọc đại (su hào bánh xe): Củ to hơi dẹt, vỏ rất dày, cọng và phiến lá rất to, dày.
Thời gian sinh trưởng 120 – 130 ngày. Đặc trưng là su hào Tiểu Anh Tử (Trung Quốc) hoặc Thiên Anh Tử (Nhật Bản).
– Thời vụ gieo trồng:
+ Vụ chính: Gieo tháng 9 đến hết tháng 10. Dùng các giống su hào nhỡ và su hào dọc đại để thu hoạch được dài ngày. Tuổi cây giống 30 – 35 ngày.
+ Vụ muộn: Gieo tháng 11, chủ yếu dùng loại su hào dọc tăm và một phần loại dọc nhỡ để có thể kéo dài thu hoạch tới cuối tháng 4 năm sau. Tuổi cây giống 25 – 30 ngày.
– Vườn ươm:
Chọn nơi đất cao, dễ thoát nước, đất thịt nhẹ hoặc cắt pha để gieo hạt. Làm đất thật nhỏ tơi xốp, lên luống cao 0,3m, mặt luống rộng 0,9 – 1m. Bón lót bằng phân chuồng mục từ 1,5 – 2kg/m2. Gieo hạt đều trên mặt luống với lượng hạt gieo là 1,5 – 2g/m2. Gieo hạt xong phủ một lớp trấu hoặc rơm rạ lên trên sau đó tưới nước bằng ô doa đủ ẩm mỗi ngày 1 lần. Khi cây mọc thì bóc lớp rơm rạ trên mặt luống và tưới đủ ẩm thường xuyên cho cây. Không dùng phân đạm để bón trong vườn ươm. Dùng phân lân hoặc nước pha loãng để tưới thúc cho cây. Dùng thuốc trừ sâu, trừ bệnh trong danh mục được phép sử dụng để phun phòng trừ, nếu phát hiện thấy sâu bệnh. Trước khi nhổ cây tưới đủ ẩm để hạn chế đứt rễ cây.
– Làm đất trồng cây:
Chọn chân đất cao, dễ thoát nước, thịt nhẹ, đất được luân canh với các cây khác họ có độ pH từ 5,5 – 6,5. Cày bừa kỹ, đập nhỏ đất, lên luống cao 0,3m, rãnh rộng 0,3m, mặt luống rộng 0,8 – 0,9m. Dùng toàn bộ lượng phân chuồng, lân, 10% lượng đạm, 50% lượng kali để bón lót và phải trộn đều với đất, san phẳng mặt luống. Khoảng cách 30 X 40cm đảm bảo mật độ là 5,5 – 7,5 vạn cây/ha. Tưới nước đủ ẩm mỗi ngày 1 lần; sau khi cây hồi xanh tưới 2 – 3 ngày 1 lần.
– Trồng su hào:
Trước khi nhổ cây 4 – 5 hôm không tưới nước, tưới phân nữa để rèn luyện cây giống, bắt chúng phát triển bộ rễ mới và sau này cấy ra cây mau bén rễ. Đến lúc nhổ cây nên tưới nước trước một buổi cho dễ nhổ.
+ Dọc nhỡ với khoảng cách 30 X 35cm (2.700 – 2.800 cây /sào).
+ Dọc đại trồng với khoảng cách 35 X 40cm (2.000 – 2.100 cây/sào).
+ Đảm bảo mật độ từ 55.000 – 75.000 cây/ha.
+ Rễ cái cây giống dài có thể cắt bớt đi cho mau ra rễ mới. Dùng giằm (xén) hay cuốc con bới đất ra, đặt cây giống theo chiều tự nhiên của nó, lấy tay hay giằm hoặc cuốc con khẽ nhấn đất vào gốc là được.
– Phân bón và cách bón:
+ Lượng bón:
Loai phân Tổng lượng phân bón
Phân chuồng ủ mục 20.000 – 25.000 kg/ha. Dùng để bón lót.
Đạm urê 195-235 kg/ha – Bón lót 30%. Bón thúc lần 1: 15%, lần 2: 25%, lần 3: 30%
Lân super 550 – 700 kg/ha – Bón lót 100%
Kaliclorua 195-235 kg/ha – Bón lót 50%. Bón thúc lần 1: 10%, lần 2: 20%, lần 3: 20%
+ Cách bón:
Bón lót dùng toàn bộ số phân chuồng loại mục (không dùng phân tươi, nước phân tươi để bón) hoặc phân hữu cơ vi sinh.
• Lần 1:
Khi cây hồi xanh (sau trồng 7-10 ngày).
• Lần 2:
Sau trồng 20 – 25 ngày, dùng 25% số phân đạm và 20% kali.
• Lần 3:
Khi trồng 35 – 40 ngày, dùng nốt số phân còn lại.
Có thế dùng phân bón lá phun đều cho cây vào 3 đợt nằm trong khoảng giữa thời gian bón phân trên.
– Chăm sóc:
+ Tưới nước: Sau khi trồng xong phải tưới nước ngay, sau đó ngày tưới 2 lần vào buổi sớm và chiểu mát. Tưới như thế trong 5 – 6 ngày. Bảy ngày sau khi cây thì bón thúc kết hợp tưới. Tưới sao giữ được độ ẩm cho đất trong suốt thời gian sinh trưởng.
+ Bón thúc: Thúc lần đầu sau khi cây đã bén rễ bằng phân chuồng pha loãng 20%. Sau đó cứ một tuần lại thúc một lần. Lượng phân đạm để thúc suốt quá trình sinh trưởng từ 150 – 200kg urê cho 1ha. Chú ý, su hào càng lớn lượng phân thúc càng tăng. Thúc lần cuối trước khi thu hoạch một tuần để củ nẩy đều, mỏng vỏ.
+ Vun xới: Xới xáo làm hai lần: lần đầu vào sau khi ra ngoài được 15 – 20 ngày, lần thứ hai sau lần trước khoảng 15 ngày.
– Phòng trừ sâu bệnh:
Tất cả các loại sâu bệnh hại cải bắp cũng đều hại su hào, đặc biệt là rệp rau: chúng tập trung ở phần nõn củ và lá non mới nhú để chích hút làm cho các bộ phận này bị teo đi, su hào không lớn được. Phải phát hiện kịp thời và dùng dipterêc pha 1/1600 để phun trừ.
– Thu hoạch:
Căn cứ vào thời gian sinh trưởng của từng giống, từng vụ và thấy mặt củ đã bằng, lá non ngừng sinh trưởng thì thu hoạch, kéo dài thêm sẽ già, nhiều xơ, giảm phẩm chất. Năng suất su hào của ta hiện nay từ 16 – 30 tấn/ha (6-10 tạ/sào).
– Để giống su hào:
Những giống su hào sớm, su hào trung, su hào muộn có thể sản xuất hạt giống ở vùng núi phía Bắc ở nưóc ta có độ cao trên 1000m. Vấn đề quan trọng là điều chỉnh để tạo được sự cân bằng giữa sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực. Nếu sinh trưởng thân lá quá mạnh sẽ làm chậm thời gian trổ ngồng ra hoa.
Tuy các thời vụ gieo trồng chênh lệch nhau về thời gian nhưng đến tháng 1 thì thân củ dài ra vươn cao gọi là ngồng hoa; các chồi nách đều phát triển thành các cành hoa. Tháng 2 trên thân cây chính và cành đều ra hoa.
Thời gian ra hoa của củ su hào chậm hơn cải bắp khoảng 10 ngày. Khi ngồng hoa phát triển thì hạn chế bón phân vào thời kỳ hoa nụ.
Kỹ thuật thu hoạch, đập hạt, phơi hạt và bảo quản hạt giống như hạt cải bắp và các hạt giống rau khác.
Ở những vùng khi thu hoạch và phơi hạt thường gặp mưa, sương mù, thiếu ánh sáng thì cần sấy hạt ở nhiệt độ 50 – 60°C trong thời gian 10 – 12 giờ; khối lượng 1000 hạt là 3,3g.