≡ Menu

Kỹ thuật trồng và chăm sóc Bí Ngô

Giá trị dinh dưỡng của bí ngô

Bí ngô còn gọi là bí đỏ, bí rợ, tên khoa học là Cucurbita pepo, thuộc họ Bầu bí. Dây bí đỏ thường mọc lan trên mặt đất. Hiện nay có nhiều loài mà quả có hình dáng và màu sắc khác nhau: hình cầu, hình cầu dẹt, hình trụ; vỏ nâu, vỏ vân, vỏ sẫm màu; thịt đỏ, thịt hồng, thịt vàng; có loại nặng trên 100kg. Trong số đó có khá nhiều loài lai giống.
– Đọt bí:
Đọt bí ngô dùng làm rau ăn: xào, um (xào nước) hay nấu canh. Đọt bí có tính thanh nhiệt, nhuận tràng nhờ chất xơ kích thích nhu động ruột.
Đọt bí đỏ nấu với cà chua là một món chay có tác dụng thanh nhiệt, nhuận tràng. Đây là một kết hợp đồng vận vì cả hai đều có tính chống oxy hóa; tăng tính trị liệu cũng như tăng khẩu vị. Khi trời nắng nóng nên ăn món này sẽ giúp thanh lọc cơ thể, giải nhiệt và ngon miệng.
– Hoa bí:
Hoa bí cũng thanh nhiệt, nhuận tràng nhưng hơi chát nên có tính thu sáp nhẹ. Thu sáp nên cầm mồ hôi, cố tinh.
Hoa bí có Betacarotene, một chất tiền sinh tố A. Khi vào cơ thể, Betacarotene sẽ chuyển hóa thành vitamin A với hiệu suất khoảng 25%. Hoa bí xào cà chua là món ăn chay có tính thanh nhiệt. Lycopene trong cà chua giúp tăng hấp thụ carotene vào máu.
– Quả bí non:
Những người dân khai khẩn hoang thường trồng các cây ngắn ngày như ngô, khoai, bí đỏ. Quả bí đỏ non dùng thay rau, có thể luộc hoặc nấu canh; tuy nhiên ăn nhiều có thể bị tiêu chảy. Đọt bí làm rau ăn an toàn hơn quả non.
– Quả bí chín:
100g quả bí chín sinh 25 – 30 calo. Thành phần: 90% nước, 8% glucid, 1% protein, 19mg phốt-pho, 430mg kali, 23mg canxi, 17mg magiê, 0,5mg sắt, 8mg vitamin c (15% nhu cầu hằng ngày), 22mg folacin (11%), 1mg Betacarotene.
Quả bí đỏ được chế biến thành nhiều món ăn ngon như: luộc, xào, nấu canh.
Quả bí còn dùng để nấu chè, cháo và đặc biệt là các món ăn chay.
+ Thanh nhiệt, giải khát, sinh tân dịch. Vào mùa hè nên ăn bí đỏ giúp giải nhiệt và ngon miệng.
+ Trong quả bí đỏ chứa nhiều vitamin A có tác dụng chữa quáng gà rất tốt. Quáng gà là bệnh mắt khô, tầm chiều tối không nhìn rõ. Ăn nhiều bí ngô sẽ hạn chế bệnh quáng gà, không gây tác dụng phụ như dùng vitamin A đơn thuần.
+ Giảm béo: Bí đỏ có khả năng sinh nhiệt thấp nên có thể sử dụng trong thực đơn giảm cân.
+ Phòng chống bệnh tim mạch:
Sự kết đọng chất béo làm thành mạch máu mất tính đàn hồi nên huyết áp tăng, vết kết đọng này kéo theo sự oxy hóa lipoprotein và tạo xơ động mạch, thành mạch dày thêm và mạch máu giảm khẩu độ, sự tuần hoàn thêm trì trệ, dẫn tới thiểu năng động mạch vành. Máu nhiễm mỡ cũng tạo thuận lợi cho sự kết đọng tiểu cầu, sản sinh ra máu cục; máu cục làm tắc nghẽn mạch máu tim gây đột tử do nhồi máu cơ tim; nó vào não gây tai biến mạch máu não. Rõ ràng việc ăn kiêng để tiêu hao mỡ là biện pháp đầu tiên để phòng chống các bệnh tim mạch.
Xơ động mạch do lipoprotein LDL oxit hóa. Betacarotene trong bí đỏ có khả năng chống oxit hóa nên rất tác dụng trong trường hợp này.
Chất xơ trong bí đỏ khoá hoạt tính của cholesterol và bị loại bỏ theo phân. Chất béo phải nhờ cholesterol nhũ hóa mới ngấm được vào máu. Cholesterol bị khoá hoạt tính nên cả cholesterol và chất béo đều không vào máu và bị bài xuất theo phân. Kết quả là cholesterol và chất béo đều giảm, đồng thời giảm nguy cơ bệnh tim mạch.
+ Trị bệnh tiểu đường:
Sự kết đọng chất béo và xơ động mạch ngăn chặn glucose khuếch tán vào các mô. Máu nhiễm mỡ làm cho tuần hoàn trì trệ, tạo thuận lợi cho việc liên kết protein glucose; dưới dạng liên kết đại phân tử, glucose không thể thoát ra ngoài mạch. Đây là hai nguyên nhân khiến glucose – huyết tăng ở những người mập phì bị bệnh tiểu đường loại II (không phụ thuộc insulin). (RefBetacarotene chống oxit hóa lipoprotein LDL, ngăn chặn xơ động mạch, nghĩa là giúp cho glucose phân tán được ra khỏi mạch máu. Betacarotene trong quả bí đỏ còn chống lão hóa, mà lão hóa là một trong những nguyên nhân của bệnh tiểu đường.
Bí đỏ lại có ít chất bột nên rất thuận lợi cho thực đơn.người bệnh tiểu đường.
+ Nhuận tràng:
Quả bí còn non giúp nhuận tràng mạnh hơn bí chín. Người mập phì thường dễ bị táo bón. Ăn bí đỏ có thể giúp giảm cân và nhuận tràng.
Món ăn bí đỏ: Với tất cả các bệnh trên nên ăn món canh chay bí đỏ nấu với cà chua, nấm rơm hoặc nấm đông cô, nêm thêm súp lơ hoặc bắp cải để tăng khẩu vị.

Kỹ thuật trồng Bí Ngô

– Thời vụ:
Bí ngô có thể trồng quanh năm, nhưng tập trung vào 2 vụ chính: Vụ đông xuân trồng tháng 11 để cắt ngọn tháng 2, tháng 3, thu quả tháng 4, tháng 5; vụ hè thu trồng tháng 7 để cắt ngọn, thu quả vào tháng 9, tháng 10.

– Làm đất:
Bí ngô ưa đất tốt, giàu mùn, tơi xốp, có cấu tượng nhẹ, dễ thoát nước vì vậy nên chọn những chân đất cao ráo, đất thịt nhẹ pha cát như đất phù sa ven sông, suối. Có thể .tận dụng các bờ lô, bờ thửa, bờ ruộng để trồng, trồng xen cành trong vườn cây ăn quả khi chưa khép tán nhưng cách gốc các loại cây này khoảng 1m. Cũng có thể tranh thủ trồng một vụ luân canh với lúa mùa sau khi thu hoạch nhưng phải lên luống, khơi rãnh để tránh bị úng ngập dễ bị bệnh thối gốc. thối cây. Với đất bãi, đất vườn chỉ cần cày bừa, lên luống rộng 2m; với đất lúa mùa chỉ cần cày lật, lên luống rồi đặt đất mới vào trong cây đã gieo qua bầu rồi xăm xới đất trong quá trình chăm sóc sau này.
– Kỹ thuật gieo trồng:
Có thể ngâm hạt trong nước ấm, vớt ra ủ trong khăn ẩm cho nứt nanh rồi đem gieo trực tiếp trên hố hoặc gieo vào bầu chăm sóc thành cây giống cứng cáp rồi đem trồng. Mỗi sào nên bón lót khoảng 400 – 500kg phân chuồng loại có nhiều chất độn. Càng nhiều phân chuồng thì khi bón thúc mới có thể bón được đạm để cây bí sinh trưởng, phát triển khỏe, thu hái được nhiều lứa, bền cây. Kinh nghiệm nhiều nơi cho thấy, với đất bãi, đất vườn thì nên gieo thẳng cây sẽ sinh trưởng khỏe hơn. Mỗi hốc gieo 2 – 3 hạt, khi đã mọc thì chọn giữ lại một cây tốt nhất còn nhổ bỏ hoặc để trồng dặm cho những hốc không mọc hoặc mọc yếu. Với đất ruộng nên trồng bằng cây bầu giống là tốt nhất. Vì là bí để cắt ngọn nên phải trồng dày với khoảng cách như sau: Hàng cách hàng 2m, cây cách cây 30 – 40cm. Mỗi sào có thể trồng được 500 – 600 cây, cao gấp 3 – 4 lần so với trồng để lấy quả.
– Chăm sóc, thu hoạch:
Khi cây đã bén rễ, hồi xanh nên tưới nhử 3 ngày/lần bằng nước giải hoặc nước phân chuồng pha loãng. Khi bí đã có 3 – 4 lá thật, cây sắp ngả ngọn thì cần vun gốc kịp thời để cho bí có ngọn to, bụ bẫm, non mới bán được giá. Khi ngọn đã bò dài 50 – 60cm thì bắt đầu thu hoạch bằng cách cắt tất cả các ngọn bí cách gốc 10 – 15cm. Nhổ sạch cỏ, rạch hàng cách gốc 20cm, bón thúc đạm với lượng 2,5 – 3kg/sào, lấp đất rồi tưới nhẹ. Khi các chồi gốc đã nảy mầm, chọn giữ lại mỗi gốc 2 – 3 chồi khỏe nhất, sau đó ngắt bỏ để ngọn to. Các lứa thu hái tiếp theo cũng làm như vậy khi ngọn đã dài 60 – 70cm, cắt ngọn gần sát gốc và tiếp tục bón thúc, vun gốc và tưới nước đủ ẩm thường xuyên. Bí ngô cần lượng nước rất lớn để duy trì được năng suất và sản lượng chất xanh cao, vì vậy cần tưới nước thường xuyên, đảm bảo độ ẩm cho cây mới có năng suất cao, chất lượng tốt.
– Phòng trừ sâu bệnh:
Bí ngô hay bị các loại sâu ăn lá, nhện đỏ, rệp hại ngọn, hại lá… cần chú ý phát hiện, phun trừ kịp thời bằng các loại thuốc sâu, thuốc trừ sâu vi sinh như BT, NPV và đảm bảo thời gian cách ly, hạn chế sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học đề tránh ngộ độc cho người mua.