≡ Menu

Lô hội

Lô hội còn có tên là Nha đam, Long tu, thuộc họ Bách hợp, chi Lô hội, là thực vật thân cỏ mọng nước sống lâu năm. Có xuất xứ ở khu vực khô nóng nhiệt đới miền Bắc châu Phi, tập trung nhiều nhất ở Madagascar, quần đảo Canary, bán đảo A rập, ngoài ra cũng có phân bố cây Lô hội dạng mọc dại.

Các giống chủ yếu: Lô hội có rất nhiều giống, có khoảng trên 300 giống có tính trạng khác nhau. Căn cứ vào tác dụng có thể phân thành 2 loại:

– Loại Lô hội dùng làm thuốc: Cây tương đối cao to, có giống cây cao tới 1 – 2m. Được trồng chủ yếu để làm thuốc và mỹ phẩm. Loại này gồm các giống chủ yếu sau:

+ Aloe vera L.: Còn có tên là Lô hội thật. Hiện tại, nó là giống cây được ứng dụng rộng rãi trong thực phẩm, dược phẩm và làm đẹp. Có xuất xứ ở Bắc Phi, hiện nay được trồng nhiều nhất ở châu Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, quần đảo Hải Nam của Trung Quốc, chúng được trồng thương nghiệp hóa với diện tích lớn. Cây chủ yếu được chiết xuất lấy nước cốt, chất gel và phấn kết tinh của Lô hội, ngoài ra cây còn được trồng làm chậu cảnh trong gia đình.

Aloe Vera L. là nguyên chủng của Lão Lô hội trong đông y. Về sau trong quá trình gây trồng thủ công lại chọn ra nhiều biến chủng khác. Chủ yếu có Lô hội Trung Quốc và Lô hội lá to.

• Lô hội Trung Quốc: Còn có tên là Lô hội đốm vằn, được trồng phân bố ở khu vực Nguyên Giang của Vân Nam, Mân Giang của Phúc Kiến, duyên hải Quảng Đông của nước này. Lá nhỏ dài và hơi mỏng hơn so vối loại Aloe Vera L., lá non có thể dùng làm nguyên liệu sa-lát. Nước cốt ở lá có tác dụng làm đẹp, làm thuốc, sản lượng thấp. Khả năng thích nghi tốt, khả năng tách chồi khỏe.

• Lô hội lá to: Do Học viện Nông nghiệp Thượng Hải gây trồng, phiến lá to cứng, dài nhất có thể lên tới 85cm, rộng có thể đến 12cm, vì vậy mới có tên là Lô hội lá to. Loại giống này lá có màu xanh biếc, được phủ bởi lớp phấn trắng, lá mọng nước, nước có màu trong suốt không có vị đắng. Khi trồng trong chậu khả năng tách chồi cực kém, vì vậy thân chính không phân nhánh. Là loại giống tốt được trồng và phát triển theo mô hình cây công nghiệp ở khu vực trung, hạ du Trường Giang của Trung Quốc, có giá trị khai thác và sử dụng rất lớn. Cây cũng thích hợp trồng trong gia đình.

+ Candelabra aloe: Còn có tên là Tiểu mộc lô hội, Mộc kiếm lô hội. Có xuất xứ ở Nam Phi. Cây cao đến hơn 2m, tuy nhiên lá đơn tương đối nhỏ, lá mỏng không mọng nước, nước cốt cực đắng. Hiện nay, loại này được trồng nhiều nhất ở Nhật Bản, và đây cũng được coi là loại có chất lượng làm thuốc tốt nhất.

+ Aloe ferox Mill: Được trồng chủ yếu ở Nam Phi, cây cao to, có thế lên đến 6m. Lá to và cứng, có gai nhọn, không có nhánh phụ, dùng hạt để nhân giống. Aloe ferox Mill là một loại thực vật dùng làm thuốc truyền thống, trong từ điển thuốc của các nước đa số đều có ghi chép. Nó là nguyên liệu dạng khô miếng mới trong đông y. Tuy nhiên chất lượng của loại này được cho là không bằng so với của Lão lô hội.

+ Aloe saponaria (Ait) Haw: Nước cốt trong lá của nó giống xà phòng, có tính nhớt, vì vậy mà còn được gọi là Lô hội xà phòng. Lá của loại này khá mỏng. Nước cốt ở lá non có tác dụng bảo vệ da nhất định, nhưng không tốt bằng loại Aloe Vera L., vì vậy cho đến nay loại cây này vẫn chưa được trồng công nghiệp hóa trên diện tích rộng.

+ Aloe aristata: Hay còn gọi là Lô hội giả, dứa Đức. Lá có hình kim to bản, mọc thành khóm, mỗi khóm có khoảng 50 phiến lá, phần ngọn lá nhọn dài, mặt lá có các đốm trắng. Đây thuộc loại Lô hội cây nhỏ, thông thường cây chỉ cao dưới 10cm, chủ yếu trồng làm cảnh, đặt trên bàn, rất đẹp và tinh tế. Aloe aristata mặc dù phiến lá nhỏ, nhưng chất nhựa bên trong lại chứa nhiều loại đường, có tác dụng làm đẹp rất tốt.

+ Loại Lô hội dùng làm cảnh: Cây thấp nhỏ lá màu xanh có đường vân hoặc các chấm đốm, hình dạng cây gọn và đẹp. Các giống chủ yếu có:
+ Aloe Variegata: Còn có tên là Thúy hoa chưởng. Có xuất xứ ở Nam Mỹ. Lá có hình tam giác, sắp xếp dạng mái ngói, lườn giữa của lá lõm xuống, hai mặt bên của lá cong lên, màu xanh thẫm, có các đường vân ngang màu vàng không theo quy tắc, hoa có màu đỏ.
+ Aloe Nobilis: Còn có tên là Lô hội cao thượng. Lá có màu xanh thẫm, hoa đẹp, có giá trị làm cảnh rất cao.
+ Aloe Períoliatab L.: Lá nhỏ mọng, cọng hoa tương đối ngắn.
+ Aloe Vulgaris L.: Lá giống Sen đá, màu xanh của ngọc bích, hình dạng cây đẹp, có giá trị làm cảnh tương đối cao.
Lô hội là cây ưa môi trường có đủ ánh sáng, ấm. Chịu được khô, chịu được nắng, ưa đất trồng màu mỡ, thông thoáng khí.

Phương pháp nhân giống

Lô hội là cây sống khỏe, chăm sóc đơn giản, cần lưu ý một số điểm quan trọng dưới đây:

– Thứ nhất là đất trồng, sử dụng đất cát màu mỡ. Lấy 2 phần đất vườn, 2 phần cát, 1 phần phân hữu cơ hoai trộn đều với nhau.

– Thứ hai là tưới nước. Vào mùa xuân, khi nhiệt độ trong nhà khoảng 15 – 25°C, có thể cách 5 – 7 ngày tưới nước 1 lần. Vào mùa hè nóng bức, nước bốc hơi nhiều, cần cách 2 – 3 ngày tưới nước 1 lần. Ngoài ra có thể phun nước lên mặt lá vào mỗi buổi chiều để giữ cho phiến lá được xanh, tăng vẻ đẹp cho cây. Vào mùa thu, cách tưới nước như với mùa xuân, tuy nhiên do nhiệt độ giảm dần, vì vậy nên tưới ít nước. Vào mùa đông có thể nửa tháng tưới nước 1 lần. Lúc nào cũng cần phải chú ý đến thời tiết, nhiệt độ, độ ẩm của đất để tưới nước hợp lý, cần để đất hơi ẩm là được.

– Thứ ba là phân bón. Trong thời kỳ sinh trưởng của Lô hội có thể nửa tháng bón thúc 1 lần, dùng nước phân ủ loãng. Vào mùa xuân và mùa thu cây sinh trưởng nhanh, có thể tăng cường số lượng bón thúc. Vào mùa đông cây sinh trưởng chậm, có thể giảm lượng phân bón, thậm chí ‘không cần bón. Đối với loại Lô hội dùng làm thuốc rất kỵ sử dụng phân bón hóa học, để tránh làm giảm phẩm chất của cây.

– Thứ tư là chăm sóc vào mùa đông. Do Lô hội có nguồn gốc ở vùng khô hạn nhiệt đới châu ‘Phi, nhiệt độ quanh năm đều cần trên 0°C. Đối với cây trồng trong chậu, khi nhiệt độ ở mức 5°C, cây ỏ trạng thái ngừng sinh trưởng, nếu nhiệt độ xuống dưới 3°C, cây có hiện tượng rét hại, trường hợp nhiệt độ xuống đến dưới 0°C, thậm chí chỉ trong khoảng 1 – 2 tiếng cây cũng bị rét hại và chết. Chính vì vậy, nhiệt độ để cho cây vượt đông cần đảm bảo trên 5°C.

– Thứ năm là đánh lên chậu hoặc thay chậu: Nên tiến hành thay chậu vào mùa xuân, nhiệt độ trong nhà trong khoảng 15 – 28°C là thích hợp. Trong điều kiện thời gian cho cây hồi phục ngắn, nhanh ra rễ, rất có lợi cho sự sinh trưởng của cây.

– Thứ sáu là ánh sáng. Trừ một số giông cần che bớt nắng vào thời gian trưa nắng gắt ra thì hầu hết các giống còn lại đều có thể sinh trưởng dưới nắng trong suốt cả năm.

Phương pháp nhân giống

Chủ yếu sử dụng phương pháp giâm. Mặc dù nó cũng có thể ra hoa kết quả, nhưng phương pháp trồng bằng hạt chỉ sử dụng khi muốn gây trồng giống mới. Cành hút, chồi hút, chồi đỉnh, cành phụ đều có thể dùng để giâm.

Giâm cành hút: Cành hút là chỉ cây mới mọc ra dưới gốc, hoặc nhánh mọc lên từ chồi đỉnh cạnh phần thân ở dưới đất. Cành hút thông thường 3 – 5 rễ. Khi cành hút lên được 25cm, thân to khoảng 2cm thì có thể cắt đi trồng Nếu như dùng cành hút quá nhỏ để trồng, cây sẽ lên chậm, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây.

Giâm chồi hút: Chồi hút là chỉ thân vừa ngắn vừa mập mọc từ chồi đĩnh. Chồi đỉnh của Lô hội sau khi bị tổn thương rất dễ lên. Khi tiến hành giâm, cần đợi chồi hút lên được khoảng 3cm mới tiến hành tách ra khỏi cây mẹ. Chồi hút thông thường không có rễ, để tránh bị thối, cần hong khô khoảng 1 tuần sau đó mới tiến hành giâm. Đảm bảo chậu cát giâm có chứa hàm lượng nước nhất định, nhưng không được quá ẩm, khả năng sống có thể trên 90%.

Giâm chồi đỉnh: Chồi đỉnh là chồi trên đỉnh ngọn của cây Lô hội, khi giâm chồi đỉnh cần cố gắng để lại một đoạn thân già có chất gỗ phía dưới, đem hong khô khoảng 1 tuần, đợi miệng cắt hoàn toàn lành, mới tiến hành giâm vối cách này cây sẽ rất dễ lên.
Tách nhánh: Với phương pháp tách nhánh, nên tiến hành trồng vào mùa xuân và mùa thu. Từ trên cây mẹ tách nhánh ra, đem hong khô, đợi cho đến khi miệng cắt lành mới tiến hành giâm. Nhiệt độ giâm thích hợp là 20 – 25°C, độ ẩm không được quá cao. Nhiệt độ thấp, ẩm nhiều, nhiệt độ cao, ẩm nhiều đều dễ khiến cành giâm bị thối, ảnh hưởng đến tỷ lệ sống.

Đất giâm Lô hội cần sử dụng loại cát sông rửa sạch thoáng khí. Giâm xong cần tránh mưa ướt và tưới ít nước. Nếu như để mưa ướt hoặc tưới quá nhiều nước, không khí trong đất lưu thông kém dễ dẫn đến gốc giâm bị thối. Giâm xong vài ngày, phiến lá chuyển sang màu nâu, sau khi ra rễ xong, cây sẽ có màu xanh trở lại, bước vào giai đoạn sinh trưởng bình thường.

Tác dụng

Lô hội là loại cây có tác dụng làm thuốc, làm đẹp, bảo vệ sức khỏe và làm cảnh. Ngay từ thê kỷ thứ IV trước Công nguyên, người ta đã phát hiện ra tác dụng làm thuốc của nó. Qua nghiên cứu, đã phát hiện được hơn 100 thành phần có thể làm thuốc. Thực nghiệm chứng minh, Lô hội có tác dụng làm mềm huyết quản, giảm lượng đường trong máu, bài thải độc tố trong cơ thể, làm lành vết thương, chống nhăn, làm hết mụn, làm đẹp, trừ bệnh, nâng cao khả năng miễn dịch cho cơ thể. Tố chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) từng tiến hành phân tích so sánh các loài thực vật dại trên toàn cầu, cuối cùng cho rằng Lô hội là một trong những thực vật có giá trị khai thác nhất. Nước Mỹ hiện nay vừa mở rộng chủng loại vừa nghiên cứu chê ra các loại, sữa rửa mặt, sữa tắm… từ cây Lô hội. Ngày nay, với xu thế của toàn cầu là “Trở về với thiên nhiên” thì cây Lô hội càng trở thành một loại tài nguyên mới cho ngành thực phẩm và mỹ phẩm.