≡ Menu

Cây Trường sinh hay còn gọi là cây Bỏng, cây Lá bông, cây Diệp sinh căn, thuộc họ Cảnh thiên, là cây thân cỏ mọng nước thường xanh sống lâu năm.

Cây Trường sinh có loại: cao và thấp. Loại thấp còn được gọi là Thiên cảnh tạp giao, cao chỉ 10 – 30cm, thân nhỏ, toàn bộ cây đều bóng nhẵn không có lông, lá mọc đối, hình bầu dục, mép lá xẻ Cây Trường sinh răng cưa to, màu xanh lá cây thẫm, bóng. Các loại hoa nguyên chủng thường có màu đỏ, cuống hoa ngắn, hoa có dạng ô. Những giống hoa được trồng tạp giao có màu sắc phong phú như đỏ, vàng, tím, cam…, cây mọc nhỏ gọn đẹp, giá trị thẩm mỹ cao. Thời kỳ ra hoa dài, từ tháng 12 cho đến tháng 4 năm sau, chính vì vậy mà được gọi là cây Trường sinh.

Cây Trường sinh có xuất xứ ở Nam Phi và đảo Madagascar. Ưa môi trường sống ấm về mùa đông, mát về mùa hè, sợ rét đậm, khô hạn, ưa ánh nắng và ánh nắng chiếu ngắn, cũng có thể chịu được bán râm. Chịu được khô, kỵ ẩm, thích hợp trồng trong đất màu mỡ, thoát nước tốt.

Phương pháp chăm sóc

Cây Trường sinh cần có đủ ánh nắng chiếu. Nếu như ánh nắng chiếu không đủ, hoa sẽ không thể ra, hoặc ra ít mà lại không đẹp, cây bị lốp, ảnh hưởng đến vẻ đẹp của cây; Nếu như ánh nắng chiếu quá mạnh, lá sẽ chuyển từ màu xanh lục sang màu đỏ thậm chí còn bị cháy. Chính vì vậy cây Trường sinh cần được để ở nơi có điều kiện ánh nắng tốt, vừa có thể che mát và thông gió. Do cây Trường sinh là thực vật chứa nhiều nước, vì vậy không được tưới nhiều nước, cách 2 – 3 ngày tưới nước 1 lần là có thể cung cấp đủ yêu cầu của cây, nếu không đất trong chậu quá ẩm khiến rễ bị thối. Trong thời kỳ sinh trưởng và trước hoặc sau khi ra hoa, cách nửa tháng tưới nước phân ủ loãng 1 lần. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng của cây là 20 – 25°C, nhiệt độ trong nhà vào mùa đông phải trên 15°C, nếu thấp dưới 10°C hoặc cao hơn 30°C, cây sẽ sinh trưởng bất thường. Sau khi hoa tàn, cần kịp thời cắt bỏ cành hoa tàn để tránh ảnh hưởng đến mỹ quan của cây. Mỗi năm thay chậu 1 lần vào mùa xuân.

Phương pháp nhân giống

Chủ yếu sử dụng phương pháp giâm. Vào mùa xuân và mùa thu, cắt đoạn cành có 3 – 5 lá, giâm vào trong đất cát, chú ý giữ cho đất ẩm và thông gió, khoảng 10 ngày sau thì mọc rễ, thậm chí cắt cả những cành đã ra hoa để đem đi giâm, vẫn có thể mọc rễ và lên cây ra hoa bình thường.

Tác dụng

Cây Trường sinh có thân cây thấp nhỏ, tán cây lên gọn. Phiến lá dày mọng và bóng, màu sắc của hoa đẹp, nhiều hoa, hoa kỳ lại dài. Thòi gian ra hoa của nó lại vào đúng dịp Tết dương lịch và âm lịch, vì vậy được nhiều người yêu thích. Với chậu cây Trường sinh, có thể thích hợp để lên bệ cửa sổ, vừa có thể ngắm hoa, vừa có thể ngắm lá, làm tăng thêm bầu không khí ngày xuân. Tên cây mang lại sự may mắn an khang nên loại cây này còn thê làm món quà mừng thọ.

Lô hội còn có tên là Nha đam, Long tu, thuộc họ Bách hợp, chi Lô hội, là thực vật thân cỏ mọng nước sống lâu năm. Có xuất xứ ở khu vực khô nóng nhiệt đới miền Bắc châu Phi, tập trung nhiều nhất ở Madagascar, quần đảo Canary, bán đảo A rập, ngoài ra cũng có phân bố cây Lô hội dạng mọc dại.

Các giống chủ yếu: Lô hội có rất nhiều giống, có khoảng trên 300 giống có tính trạng khác nhau. Căn cứ vào tác dụng có thể phân thành 2 loại:

– Loại Lô hội dùng làm thuốc: Cây tương đối cao to, có giống cây cao tới 1 – 2m. Được trồng chủ yếu để làm thuốc và mỹ phẩm. Loại này gồm các giống chủ yếu sau:

+ Aloe vera L.: Còn có tên là Lô hội thật. Hiện tại, nó là giống cây được ứng dụng rộng rãi trong thực phẩm, dược phẩm và làm đẹp. Có xuất xứ ở Bắc Phi, hiện nay được trồng nhiều nhất ở châu Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, quần đảo Hải Nam của Trung Quốc, chúng được trồng thương nghiệp hóa với diện tích lớn. Cây chủ yếu được chiết xuất lấy nước cốt, chất gel và phấn kết tinh của Lô hội, ngoài ra cây còn được trồng làm chậu cảnh trong gia đình.

Aloe Vera L. là nguyên chủng của Lão Lô hội trong đông y. Về sau trong quá trình gây trồng thủ công lại chọn ra nhiều biến chủng khác. Chủ yếu có Lô hội Trung Quốc và Lô hội lá to.

• Lô hội Trung Quốc: Còn có tên là Lô hội đốm vằn, được trồng phân bố ở khu vực Nguyên Giang của Vân Nam, Mân Giang của Phúc Kiến, duyên hải Quảng Đông của nước này. Lá nhỏ dài và hơi mỏng hơn so vối loại Aloe Vera L., lá non có thể dùng làm nguyên liệu sa-lát. Nước cốt ở lá có tác dụng làm đẹp, làm thuốc, sản lượng thấp. Khả năng thích nghi tốt, khả năng tách chồi khỏe.

• Lô hội lá to: Do Học viện Nông nghiệp Thượng Hải gây trồng, phiến lá to cứng, dài nhất có thể lên tới 85cm, rộng có thể đến 12cm, vì vậy mới có tên là Lô hội lá to. Loại giống này lá có màu xanh biếc, được phủ bởi lớp phấn trắng, lá mọng nước, nước có màu trong suốt không có vị đắng. Khi trồng trong chậu khả năng tách chồi cực kém, vì vậy thân chính không phân nhánh. Là loại giống tốt được trồng và phát triển theo mô hình cây công nghiệp ở khu vực trung, hạ du Trường Giang của Trung Quốc, có giá trị khai thác và sử dụng rất lớn. Cây cũng thích hợp trồng trong gia đình.

+ Candelabra aloe: Còn có tên là Tiểu mộc lô hội, Mộc kiếm lô hội. Có xuất xứ ở Nam Phi. Cây cao đến hơn 2m, tuy nhiên lá đơn tương đối nhỏ, lá mỏng không mọng nước, nước cốt cực đắng. Hiện nay, loại này được trồng nhiều nhất ở Nhật Bản, và đây cũng được coi là loại có chất lượng làm thuốc tốt nhất.

+ Aloe ferox Mill: Được trồng chủ yếu ở Nam Phi, cây cao to, có thế lên đến 6m. Lá to và cứng, có gai nhọn, không có nhánh phụ, dùng hạt để nhân giống. Aloe ferox Mill là một loại thực vật dùng làm thuốc truyền thống, trong từ điển thuốc của các nước đa số đều có ghi chép. Nó là nguyên liệu dạng khô miếng mới trong đông y. Tuy nhiên chất lượng của loại này được cho là không bằng so với của Lão lô hội.

+ Aloe saponaria (Ait) Haw: Nước cốt trong lá của nó giống xà phòng, có tính nhớt, vì vậy mà còn được gọi là Lô hội xà phòng. Lá của loại này khá mỏng. Nước cốt ở lá non có tác dụng bảo vệ da nhất định, nhưng không tốt bằng loại Aloe Vera L., vì vậy cho đến nay loại cây này vẫn chưa được trồng công nghiệp hóa trên diện tích rộng.

+ Aloe aristata: Hay còn gọi là Lô hội giả, dứa Đức. Lá có hình kim to bản, mọc thành khóm, mỗi khóm có khoảng 50 phiến lá, phần ngọn lá nhọn dài, mặt lá có các đốm trắng. Đây thuộc loại Lô hội cây nhỏ, thông thường cây chỉ cao dưới 10cm, chủ yếu trồng làm cảnh, đặt trên bàn, rất đẹp và tinh tế. Aloe aristata mặc dù phiến lá nhỏ, nhưng chất nhựa bên trong lại chứa nhiều loại đường, có tác dụng làm đẹp rất tốt.

+ Loại Lô hội dùng làm cảnh: Cây thấp nhỏ lá màu xanh có đường vân hoặc các chấm đốm, hình dạng cây gọn và đẹp. Các giống chủ yếu có:
+ Aloe Variegata: Còn có tên là Thúy hoa chưởng. Có xuất xứ ở Nam Mỹ. Lá có hình tam giác, sắp xếp dạng mái ngói, lườn giữa của lá lõm xuống, hai mặt bên của lá cong lên, màu xanh thẫm, có các đường vân ngang màu vàng không theo quy tắc, hoa có màu đỏ.
+ Aloe Nobilis: Còn có tên là Lô hội cao thượng. Lá có màu xanh thẫm, hoa đẹp, có giá trị làm cảnh rất cao.
+ Aloe Períoliatab L.: Lá nhỏ mọng, cọng hoa tương đối ngắn.
+ Aloe Vulgaris L.: Lá giống Sen đá, màu xanh của ngọc bích, hình dạng cây đẹp, có giá trị làm cảnh tương đối cao.
Lô hội là cây ưa môi trường có đủ ánh sáng, ấm. Chịu được khô, chịu được nắng, ưa đất trồng màu mỡ, thông thoáng khí.

Phương pháp nhân giống

Lô hội là cây sống khỏe, chăm sóc đơn giản, cần lưu ý một số điểm quan trọng dưới đây:

– Thứ nhất là đất trồng, sử dụng đất cát màu mỡ. Lấy 2 phần đất vườn, 2 phần cát, 1 phần phân hữu cơ hoai trộn đều với nhau.

– Thứ hai là tưới nước. Vào mùa xuân, khi nhiệt độ trong nhà khoảng 15 – 25°C, có thể cách 5 – 7 ngày tưới nước 1 lần. Vào mùa hè nóng bức, nước bốc hơi nhiều, cần cách 2 – 3 ngày tưới nước 1 lần. Ngoài ra có thể phun nước lên mặt lá vào mỗi buổi chiều để giữ cho phiến lá được xanh, tăng vẻ đẹp cho cây. Vào mùa thu, cách tưới nước như với mùa xuân, tuy nhiên do nhiệt độ giảm dần, vì vậy nên tưới ít nước. Vào mùa đông có thể nửa tháng tưới nước 1 lần. Lúc nào cũng cần phải chú ý đến thời tiết, nhiệt độ, độ ẩm của đất để tưới nước hợp lý, cần để đất hơi ẩm là được.

– Thứ ba là phân bón. Trong thời kỳ sinh trưởng của Lô hội có thể nửa tháng bón thúc 1 lần, dùng nước phân ủ loãng. Vào mùa xuân và mùa thu cây sinh trưởng nhanh, có thể tăng cường số lượng bón thúc. Vào mùa đông cây sinh trưởng chậm, có thể giảm lượng phân bón, thậm chí ‘không cần bón. Đối với loại Lô hội dùng làm thuốc rất kỵ sử dụng phân bón hóa học, để tránh làm giảm phẩm chất của cây.

– Thứ tư là chăm sóc vào mùa đông. Do Lô hội có nguồn gốc ở vùng khô hạn nhiệt đới châu ‘Phi, nhiệt độ quanh năm đều cần trên 0°C. Đối với cây trồng trong chậu, khi nhiệt độ ở mức 5°C, cây ỏ trạng thái ngừng sinh trưởng, nếu nhiệt độ xuống dưới 3°C, cây có hiện tượng rét hại, trường hợp nhiệt độ xuống đến dưới 0°C, thậm chí chỉ trong khoảng 1 – 2 tiếng cây cũng bị rét hại và chết. Chính vì vậy, nhiệt độ để cho cây vượt đông cần đảm bảo trên 5°C.

– Thứ năm là đánh lên chậu hoặc thay chậu: Nên tiến hành thay chậu vào mùa xuân, nhiệt độ trong nhà trong khoảng 15 – 28°C là thích hợp. Trong điều kiện thời gian cho cây hồi phục ngắn, nhanh ra rễ, rất có lợi cho sự sinh trưởng của cây.

– Thứ sáu là ánh sáng. Trừ một số giông cần che bớt nắng vào thời gian trưa nắng gắt ra thì hầu hết các giống còn lại đều có thể sinh trưởng dưới nắng trong suốt cả năm.

Phương pháp nhân giống

Chủ yếu sử dụng phương pháp giâm. Mặc dù nó cũng có thể ra hoa kết quả, nhưng phương pháp trồng bằng hạt chỉ sử dụng khi muốn gây trồng giống mới. Cành hút, chồi hút, chồi đỉnh, cành phụ đều có thể dùng để giâm.

Giâm cành hút: Cành hút là chỉ cây mới mọc ra dưới gốc, hoặc nhánh mọc lên từ chồi đỉnh cạnh phần thân ở dưới đất. Cành hút thông thường 3 – 5 rễ. Khi cành hút lên được 25cm, thân to khoảng 2cm thì có thể cắt đi trồng Nếu như dùng cành hút quá nhỏ để trồng, cây sẽ lên chậm, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây.

Giâm chồi hút: Chồi hút là chỉ thân vừa ngắn vừa mập mọc từ chồi đĩnh. Chồi đỉnh của Lô hội sau khi bị tổn thương rất dễ lên. Khi tiến hành giâm, cần đợi chồi hút lên được khoảng 3cm mới tiến hành tách ra khỏi cây mẹ. Chồi hút thông thường không có rễ, để tránh bị thối, cần hong khô khoảng 1 tuần sau đó mới tiến hành giâm. Đảm bảo chậu cát giâm có chứa hàm lượng nước nhất định, nhưng không được quá ẩm, khả năng sống có thể trên 90%.

Giâm chồi đỉnh: Chồi đỉnh là chồi trên đỉnh ngọn của cây Lô hội, khi giâm chồi đỉnh cần cố gắng để lại một đoạn thân già có chất gỗ phía dưới, đem hong khô khoảng 1 tuần, đợi miệng cắt hoàn toàn lành, mới tiến hành giâm vối cách này cây sẽ rất dễ lên.
Tách nhánh: Với phương pháp tách nhánh, nên tiến hành trồng vào mùa xuân và mùa thu. Từ trên cây mẹ tách nhánh ra, đem hong khô, đợi cho đến khi miệng cắt lành mới tiến hành giâm. Nhiệt độ giâm thích hợp là 20 – 25°C, độ ẩm không được quá cao. Nhiệt độ thấp, ẩm nhiều, nhiệt độ cao, ẩm nhiều đều dễ khiến cành giâm bị thối, ảnh hưởng đến tỷ lệ sống.

Đất giâm Lô hội cần sử dụng loại cát sông rửa sạch thoáng khí. Giâm xong cần tránh mưa ướt và tưới ít nước. Nếu như để mưa ướt hoặc tưới quá nhiều nước, không khí trong đất lưu thông kém dễ dẫn đến gốc giâm bị thối. Giâm xong vài ngày, phiến lá chuyển sang màu nâu, sau khi ra rễ xong, cây sẽ có màu xanh trở lại, bước vào giai đoạn sinh trưởng bình thường.

Tác dụng

Lô hội là loại cây có tác dụng làm thuốc, làm đẹp, bảo vệ sức khỏe và làm cảnh. Ngay từ thê kỷ thứ IV trước Công nguyên, người ta đã phát hiện ra tác dụng làm thuốc của nó. Qua nghiên cứu, đã phát hiện được hơn 100 thành phần có thể làm thuốc. Thực nghiệm chứng minh, Lô hội có tác dụng làm mềm huyết quản, giảm lượng đường trong máu, bài thải độc tố trong cơ thể, làm lành vết thương, chống nhăn, làm hết mụn, làm đẹp, trừ bệnh, nâng cao khả năng miễn dịch cho cơ thể. Tố chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) từng tiến hành phân tích so sánh các loài thực vật dại trên toàn cầu, cuối cùng cho rằng Lô hội là một trong những thực vật có giá trị khai thác nhất. Nước Mỹ hiện nay vừa mở rộng chủng loại vừa nghiên cứu chê ra các loại, sữa rửa mặt, sữa tắm… từ cây Lô hội. Ngày nay, với xu thế của toàn cầu là “Trở về với thiên nhiên” thì cây Lô hội càng trở thành một loại tài nguyên mới cho ngành thực phẩm và mỹ phẩm.

Cây Lưỡi hổ hay còn gọi là lan Da hổ, lan Đuôi hổ, thuộc họ cây Lưỡi rồng, chi cây Lưỡi hổ, có xuất xứ ở Ấn Độ.

Cây Lưỡi hổ là cây thân cỏ sống lâu năm, xanh quanh năm, cao 30 – 70cm, không có thân chính, lá của nó mọc ra từ thân nằm dưới đất, mọc thành khóm, có hình dẹt, thẳng đứng, đuôi lá nhọn, hình kiếm, dày, phiến lá dài 60 – 70cm, rộng 5 – 8cm, bề mặt có màu xanh nhạt, vân ngang trên mặt lá có màu xanh thẫm, xếp vào nhau tầng tầng lớp lớp, hình dạng giống da hổ, vì vậy được gọi là “Lan da hổ”. Hoa nhỏ, màu trắng hoặc màu hồng, không đẹp lắm, mọc thành chuỗi. Mùa hoa khoảng tháng 6 – 8.

Biến chủng: Cây Lưỡi hổ viền vàng: Hai bên mép lá đều có dải màu vàng kim, lá mọng dày, xanh thẫm, có hình dạng đẹp.

Cây Lưỡi hổ không chịu được rét, vì vậy ở vùng cận nhiệt đới không thích hợp trồng trên mặt đất, nếu không cây dễ bị rét hại và chết. Ưa trồng trong đất cát tơi xốp, màu mỡ, thoát nước tốt. Chịu khô rất khỏe.

Phương pháp chăm sóc

Đối với cây Lưỡi hổ trồng trong chậu thường tiến hành trồng lên chậu hoặc thay chậu vào tháng 3. Đất trồng sử dụng hỗn hợp 5 phần đất cát, 5 phần đất mùn và một ít phân hữu cơ. Do cây chịu được nắng, nên trồng xong có thể để ở ngoài trời. Vào mùa hè nắng gắt cũng không cần che.

Ngoài ra, do cây chịu khô rất tốt, vì vậy tưới nước cần phải cách thưa, nhưng mỗi lần tưới cần tưới đậm.

Nếu như tưới nước quá nhiều dễ dẫn đến thối rễ. Nếu thiếu nước lá nhăn và quăn lại, khi đó cần tiến hành tưới nước kịp thời. Vào kỳ sinh trưởng của cây có thể tưới một ít nước phân ủ loãng thích hợp.

Phương pháp nhân giống

Chủ yếu sử dụng phương pháp giâm lá và tách cây. Vào tháng 6 – 7, cắt lấy phiến lá, sau đó tiếp tục cắt thành đoạn dài 15 – 20cm, giâm vào trong cát sông rửa sạch, cắm sâu 1/2 chiều dài của lá, đảm bảo chậu giâm luôn ẩm, khoảng 1 – 2 tháng sau thì mọc rễ.

Cây Lưỡi hổ viền vàng sau khi giâm bằng lá lên, viền vàng dễ bị mất đi, vì vậy thường sử dụng phương pháp tách cây để nhân giống.

Tác dụng

Cây Lưỡi hổ là cây xanh quanh năm, có các đường vằn rất đẹp và chủ yếu được trồng làm cây cảnh ngắm lá, có thể đặt trong hội trường, điểm trong phòng lớn.

Sen đá còn có tên là Liên hoa chưởng, Thạch liên chưởng, thuộc họ cảnh thiên, chi Sen đá. Có xuất xứ ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, được trồng nhiều nhất ở Mêhicô.

Sen đá là cây thân cỏ mọng nước sống lâu năm, lá mọc thành khóm sát cạnh nhau. Phiến lá dày mập nhiều nước, sắp xếp theo dạng bông hoa sen, hình trứng ngược dạng chêm, đoạn trên ngắn tù nhọn, không có lông, màu lam phấn, mép lá và đoạn dưới có màu đỏ phớt. Để có thể thích hợp với môi trường sống khô hạn thiếu mưa hàng năm, trong cành và phiến lá của nó đều có dự trữ đủ nước.

Sen đá thường được trồng Sen đá trong chậu, làm cây cảnh ngắm lá, hoa của nó tương đối nhỏ, những cây trên 5 tuổi ra hoa màu đỏ xám nhỏ vào tháng 7 – 10. Cành hoa mềm, mọc lên từ giữa khóm lá, bao phiến màu trắng sương, có 8, – 24 bông hoa nhỏ mọc tập trung thành chùm hoa dạng ô, cánh hoa có hình kim to bản, không nở to.

Phương pháp chăm sóc

Sen đá là cây ưa ánh sáng, chịu được khô hạn, ưa đất màu mỡ, thoát nước tốt. Vì vậy khi làm trước khi cho đất vào chậu nên lót một lớp đá dăm dưới đáy chậu, phía trên sử dụng hỗn hợp một nửa cát và một nửa đất màu. Không được tưới nhiều nước, khi tưới cần tưới đẫm, nếu không dễ bị thối gốc. Tuyệt đối không sử dụng phân có chất dầu để bón. Trong mùa đông, nhiệt độ không được dưới 10 – 15°C, ít tưới nước sẽ có thể làm tăng nhiệt độ của đất, giúp cây có thể thuận lợi sông qua mùa đông giá rét. Nếu như nhiệt độ thấp dưới 6°C, những thân lá có nhiều nước sẽ có thể bị chết rét.

Phương pháp nhân giống

Thường sử dụng phương pháp tách cây, tức tách những cây con mọc quanh cây mẹ đem trồng vào các chậu nhỏ khác.

Tác dụng

Sen đá có hình dạng thấp nhỏ, mang trên mình màu xanh biếc quanh năm, là cây cảnh ngắm lá, bày trong phòng rất đẹp.

Sen đá còn có tên là Cảnh thiên thụ, Ngọc thụ, thuộc họ Cảnh thiên, xuất xứ ở Nam Phi.

Sen đá là cây thân bụi nhỏ thường xanh, thân hình trụ tròn, màu xanh xám, phân nhiều cành, cành non có màu xanh lục. Lá đơn mọc đối, không có cuống, hình bầu dục, mép nguyên, đầu lá hơi nhọn, phần đuôi lá có hình Sen lá tròn, bao quanh thân, mặt lá có màu xanh biếc, lưng lá có màu xanh xám. Thành phần nước trong cả cây rất lớn, cành lá đều long lanh, trông giống như những viên ngọc chạm, vì vậy mối có tên là Ngọc thụ. Hoa nhỏ màu đỏ, ra hoa vào tháng 7 – 8.

Sen đá mọc ở sa mạc, bán sa mạc của Nam Phi, ưa khô nóng và nhiều ánh sáng. Nhiệt độ thích hợp nhất cho cây sinh trưởng là vào tháng 3 – 9 khoảng 13 – 18°C và từ tháng 9 cho đến tháng 3 năm sau khoảng 10 – 12°C. Dễ thích nghi với đất trồng, cho thêm cát to vào trong đất trồng là được. Vào mùa đông, nhiệt độ thấp nhất không được dưới 7°C.

Phương pháp chăm sóc

Sen đá chăm sóc đơn giản, khi trồng trong chậu, dưới đáy chậu thường lót đá vụn hoặc miếng sành để giúp thoát nước tốt. Vào kỳ sinh trưởng, mỗi tuần cần tưới nước 2 lần.

Vào mùa mưa có độ ẩm không khí lớn và vào kỳ ngủ đông cần khống chế nghiêm ngặt lượng nước tưới. Đối với cây trồng bên ngoài trời, cần chú ý tránh mưa to và tích nước ở phần rễ. Mỗi năm vào trước Sương giáng (ngày 23 tháng 10), tiến hành chuyển cây vào trong nhà, đến hạ tuần tháng 4 thì đưa ra ngoài. 1 – 2 năm sau thì thay chậu 1 lần. Tốt nhất nên thay vào mùa xuân. Khi thay chậu lót 50g bột móng gia súc để làm phân bón lót, cây sẽ mọc tốt. Tránh sử dụng các phân bón có tính dầu mỡ.

Phương pháp nhân giống

Thường sử dụng phương pháp giâm vào bôn mùa trong năm, nhưng tốt nhất nên giâm vào mùa xuân và mùa thu, vì cây nhanh ra rễ, tỷ lệ sống cao. Cành giâm nên chọn cành có hình dáng đẹp, độ dài vừa phải, thông thường khoảng 8 – 10cm. Nếu như trên cành già của cây mẹ có chồi non dài khoảng 8 – 10cm thì tách càng tốt, nhiệt độ giâm thích hợp trong khoảng 16 – 21°C. Giâm xong 2 – 3 tuần thì cành giâm mọc rễ. Khi rễ dài 2 – 3cm thì có thế đánh lên chậu.

Phương pháp phòng trừ sâu bệnh

Khi điều kiện thông gió trong phòng không tốt, thân lá dễ bị rệp sáp gây hại. Khi phát hiện sâu hại cần lập tức đánh rửa sạch bằng phương pháp thủ công, trường hợp nặng có thể sử dụng Dichlorovos pha với 1.000 – 1.500 lần nước để phun.

Tác dụng

Sen đá là cây có vẻ đẹp tinh tế, cành lá có màu xanh bích, uyển chuyển như ngọc chạm, thích hợp đặt trong phòng họp và các phòng trong gia đình. Cũng có thể tạo hình thủ công, làm thành chậu cảnh nhỏ, đặt trên bàn trà, bàn đọc sách.